TRẢI NGHIỆM SÁNG TẠO MÔN NGỮ VĂN CHỦ ĐỀ: NGƯỜI PHỤ NỮ XƯA VÀ NAY – Tài liệu text

TRẢI NGHIỆM SÁNG TẠO MÔN NGỮ VĂN CHỦ ĐỀ: NGƯỜI PHỤ NỮ XƯA VÀ NAY

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (53.34 KB, 4 trang )

HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU BÀI HỌC KẾT HỢP
TRẢI NGHIỆM SÁNG TẠO
CHỦ ĐỀ: NGƯỜI PHỤ NỮ XƯA VÀ NAY
Nhóm 1: (Nhiệm vụ) Thống kê những tác phẩm
* Tra cứu thông tin: “Người phụ nữ trong tác phẩm văn học trung đại.”
– Liên hệ và tìm kiếm một số nhân vật nữ thành công trong sự nghiệp: Trông tin nhân
vật phải thể hiện: (người phụ nữ hiện đại)
+ Thông tin cá nhân: Tên/năm sinh/quê….
+ Tính cách
+ Thành tích nổi bật
+ Cảm nhận của cá nhân về nhân vật
– Từ thông tin, lên danh sách các câu hỏi cần phỏng vấn. Nội dung phỏng vấn cần làm
rõ được:
+ Nhân vật đó là ai?
+ Họ thành cơng trong lĩnh vực nào?
+ Q trình họ nỗ lực phấn đấu để đạt được thành cơng đó ra sao?
+ Thông điệp mà học gửi tới chúng ta liên quan đến chủ đề bài học là gì?
* Xử lí thơng tin:
+ Cả nhóm thống nhất lựa chọn thơng tin để xây dựng cấu trúc của bài viết.
+ Những phẩm chất đặc trưng, cách cư xử của người phụ nữ xưa .
+ Những phẩm chất đặc trưng, cách cư xử của người phụ nữ hiện đại.
+ Sự tương đồng, khác biệt cơ bản trong cách cư xử của người phụ nữ truyền thống và
hiện đại.
+ Những điều tích cực của xã hội ngày nay đối với phụ nữ và phương án khắc phục.
– Sưu tầm những bài thơ hay câu hát về người phụ nữ Việt Nam (ví dụ: Chuyện người
con gái Nam Xương) và nêu nội dung (lưu ý: ngắn gọn)
* Lưu ý:
– Người phụ nữ trong tác phẩm văn học trung đại gồm những tác phẩm nào, nêu nội
dung của tác phẩm đó, phân tích nhân vật chính của tác phẩm… (nhóm tự sáng tạo
thêm).
– Xây dựng các ý như một bài văn nghị luận.

Nhóm 2,3,4
– Giải thích cụm từ: “cơng, dung, ngơn, hạnh”
– Nêu lên quan điểm về cái đẹp của người phụ nữ xưa và nay.
– Trong xã hội hiện đại ngày nay, chúng ta cần phải làm gì?
– Để trở thành chủ nhân tương lai của đất nước ta phải làm gì trong thời kì hiện đại có
đầy đủ những điều kiện phát triển?
– Tìm câu ca dao bắt nguồn từ 2 chữ “thân em”.
– Tìm những bài thơ về người phụ nữ.
– Nêu tên và nội dung của văn bản nói về phụ nữ.
MB: Giới thiệu chung về người phụ nữ Việt Nam xưa và nay: Đó là vẻ đẹp chân
quê, giản dị, đáng yêu. Ở họ không phải lúc nào cũng là liễu yếu đào tơ, là cái bóng của
người đàn ông mà luôn tiềm ẩn một sức mạnh chẳng kém gì nam giới. Họ là một nửa
của cuộc sống nhân loại.
TB: Cảm nhận về vẻ đẹp của người phụ nữ xưa và nay.
1. Ngoại hình
– Trước CMT8 phần lớn PNVN nhuộm răng đen, búi tóc đi gà, mặc áo tứ thân, chiếc
khăn mỏ quạ, đội nón quai thao…
2. Tính cách, phẩm chất
– Người phụ nữ xưa đẹp khi có đủ “cơng, dung, ngơn, hạnh”
+ Chữ “Cơng” là nữ công gia chánh, tề gia nội trợ, may vá thêu thùa, nuôi con dạu cai
khỏe mạnh, chăm ngoan.
+ Chữ “Dung” là vẻ đẹp hình thức, dáng vẻ bề ngồi, “dung” là “dung nhan”. Chuẩn
mực về vẻ đẹp xưa của người phụ nữ là vẻ đẹp thùy mị, kín đáo, duyên dáng…
+ Chữ “Ngơn” là lời nói nhã nhặn, kín đáo, nhỏ nhẹ, dễ nghe; phải thưa, dạ… Lời nói
đẹp cịn phải gắn liền với cử chỉ phù hợp, nói năng nhẹ nhàng, cử chỉ đứng phép tắc, thể
hiện sự đoan trang.
+ Chữ “Hạnh” là đực thứ tư, được xem là quan trọng nhất của người phụ nữ, hanh
trong “Tứ đức”: chỉ hạnh kiểm, đạo đức, long nhân hậu, thủy chung son sắt, giàu tình

yêu thương, giữ trọn nề nếp, gia phong… Đức hạnh của người phụ nữ được thể hiện
qua các mối quan hệ: vợ – chồng, con cái – cha mẹ,…

-Phụ nữ thời nay “Cơng-Dung-Ngơn-Hạnh” khơng cịn được giữ nguyện nghĩa mà
được mở rộng, phát triển theo chiều hướng khác.
+ Đức tính “Cơng” ngày nay của người phụ nữ đã có sự khác xưa. Những cơng việc
trong gia đình khơng cịn vất vả nhiều vì được chồng chia sẻ cơng việc nhà, hay thuê
người giúp việc. Tuy thế, việc bếp núc trong gia đình, chăm sóc con cái vẫn cần đến bàn
tay của người phụ nữ, người vợ vẫn đóng vai trị chủ chốt. Ngồi ra, họ cịn phải tham
gia công việc xã hội để mang lại thu nhập cho gia đình và đóng góp cho xã hội.
+ “Dung”: Cái đẹp và vẻ đẹp của người phụ nữ hiện nay, nó trở thành vấn đề được xã
hội quan tâm. Làm đẹp luôn là nhu cầu tất yếu của con người, mỗi thời đại có những
quan niệm và những đánh giá khác nhau về nó. Nhưng có nhiều phụ nữ quá chú trọng
đến việc chăm chút bản thân, quá chú trọng về mặt hình thức, thẩm mĩ viện, trang phục
này, trang phục kia mà khơng biết rằng cái đẹp hình thức phải đi đôi và kết hợp với cái
đẹp nội dung
+ “Ngôn”: Với nhịp độ phát triển của xã hội, công việc của người phụ nữ u cầu địi
hỏi họ khơng thể nào cũng khuôn phép thưa, dạ, bẩm, vâng. Ngôn từ đang dần được trí
tuệ hóa, khoa học hóa, nó càng ngắn gọn, súc tích, chứa đựng hàm lượng thơng tin lớn.
+ “Hạnh”: Ngày nay, đức hạnh của người phụ nữ được thể hiện rõ nhất trong vai trò
làm vợ, làm mẹ, làm con. Ở vai trò làm vợ, người phụ nữ cùng chồng thực hiện tất cả
các chức năng của gia đình: chức năng sinh sản, làm kinh tế, giao tiếp… Người vợ luôn
là chỗ dựa tinh thần cho người chồng, chia sẻ buồn vui, thành công cũng như thất bại
của chồng để giữ gìn hạnh phúc gia đình, người vợ phải làm trịn trách nhiệm của mình
trong việc đáp ứng nhu cầu tâm sinh lí, nhu cầu tinh thần cũng như vật chất của chồng.

3. Số phận
-Người phụ nữ xưa bị phân biệt bất bình đẳng và bị trói buộc trong vịng lễ giáo phong
kiến “tại gia tịng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tằng tử” nên số phận éo le đau khổ.

– Ngày xưa, quan niệm trọng nam khinh nữ tuy chưa thay đổi hoàn toàn nhưng người
phụ nữ cũng đã được hưởng những quyền lợi như nam giới và được xã hội tôn trọng.
Phụ nữa được học tập, làm việc, cống hiến trong mọi lĩnh vực, kể cả lĩnh vực chính trị
hay nghiên cứu khoa học tưởng chừng chỉ dành riêng cho nam giới, ở nhiều nước trên
thế giới, phụ nữ đã vươn lên những địa vị tối cao như Tổng thống, Thủ tướng, Bộ
trưởng,…Còn ở nước ta cũng đã có Phó Chủ tịch nước và nhiều phụ nữ là giáo sư, bác
sĩ, doanh nhân,… xuất sắc, mang lại vinh quang cho đất nước.
4. Vẻ đẹp người phụ nữ trong chiến đấu

– Từ xưa, phụ nữ ta đã có truyền thống chống giặc ngoại xâm: Giặc đến nhà đàn bà
cũng đánh. Trong cuộc dựng nước và giữ nước đã có nhiều phụ nữ nổi tiếng như: Bà
Trưng Bà Triệu, Ỷ Lan… đã làm cho quân giặc nhiều phen bạt vía kinh hồn
– Trong kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ đã xuất hiện nhiều gương mặt chiến đấu
hi sinh anh dũng của các chị: Võ Thị Sáu, Nguyễn Thị Minh Khai, Mạc Thị Bưởi,
Nguyễn Thị Nhỏ, Nguyễn Thị Chiên, Trần Thị Lý, Nguyễn Thị Tuyển, Nguyễn Thị
Hằng, Võ Thị Thắng, chị Út Tịch, mẹ Tơm, mẹ Suốt, bà Nguyễn Thị Định, Nguyễn Thị
Bình, Trương Mỹ Hoa v.v. Quyết tâm đánh giặc đến cùng của các mẹ, các chị là Còn
cái lai quần cũng đánh (Người mẹ cầm súng – Nguyễn Thi)… Những người mẹ, người
vợ ở hậu phương luôn làm yên lòng những người đi chiến đấu…
KB: Nêu cảm nhận chung

Nhóm 2,3,4 – Giải thích cụm từ : “ cơng, dung, ngơn, hạnh ” – Nêu lên quan điểm về cái đẹp của người phụ nữ xưa và nay. – Trong xã hội tân tiến thời nay, tất cả chúng ta cần phải làm gì ? – Để trở thành gia chủ tương lai của quốc gia ta phải làm gì trong thời kì văn minh cóđầy đủ những điều kiện kèm theo tăng trưởng ? – Tìm câu ca dao bắt nguồn từ 2 chữ “ thân em ”. – Tìm những bài thơ về người phụ nữ. – Nêu tên và nội dung của văn bản nói về phụ nữ. MB : Giới thiệu chung về người phụ nữ Nước Ta xưa và nay : Đó là vẻ đẹp chânquê, giản dị và đơn giản, đáng yêu. Ở họ không phải khi nào cũng là liễu yếu đào tơ, là cái bóng củangười đàn ông mà luôn tiềm ẩn một sức mạnh chẳng kém gì phái mạnh. Họ là một nửacủa đời sống quả đât. TB : Cảm nhận về vẻ đẹp của người phụ nữ xưa và nay. 1. Ngoại hình – Trước CMT8 hầu hết PNVN nhuộm răng đen, búi tóc đi gà, mặc áo tứ thân, chiếckhăn mỏ quạ, đội nón quai thao … 2. Tính cách, phẩm chất – Người phụ nữ xưa đẹp khi có đủ “ cơng, dung, ngơn, hạnh ” + Chữ “ Cơng ” là nữ công gia chánh, tề gia nội trợ, may vá thêu thùa, nuôi con dạu caikhỏe mạnh, chăm ngoan. + Chữ “ Dung ” là vẻ đẹp hình thức, hình dáng bề ngồi, “ dung ” là “ dung nhan ”. Chuẩnmực về vẻ đẹp xưa của người phụ nữ là vẻ đẹp thùy mị, kín kẽ, duyên dáng … + Chữ “ Ngơn ” là lời nói nhã nhặn, kín kẽ, nhỏ nhẹ, dễ nghe ; phải thưa, dạ … Lời nóiđẹp cịn phải gắn liền với cử chỉ tương thích, nói năng nhẹ nhàng, cử chỉ đứng phép tắc, thểhiện sự đoan trang. + Chữ “ Hạnh ” là đực thứ tư, được xem là quan trọng nhất của người phụ nữ, hanhtrong “ Tứ đức ” : chỉ hạnh kiểm, đạo đức, long nhân hậu, thủy chung son sắt, giàu tìnhyêu thương, giữ trọn nề nếp, gia phong … Đức hạnh của người phụ nữ được thể hiệnqua những mối quan hệ : vợ – chồng, con cháu – cha mẹ, … – Phụ nữ thời nay “ Cơng-Dung-Ngơn-Hạnh ” khơng cịn được giữ nguyện nghĩa màđược lan rộng ra, tăng trưởng theo khunh hướng khác. + Đức tính “ Cơng ” thời nay của người phụ nữ đã có sự khác xưa. Những cơng việctrong mái ấm gia đình khơng cịn khó khăn vất vả nhiều vì được chồng san sẻ cơng việc nhà, hay thuêngười giúp việc. Tuy thế, việc bếp núc trong mái ấm gia đình, chăm nom con cháu vẫn cần đến bàntay của người phụ nữ, người vợ vẫn đóng vai trị chủ chốt. Ngồi ra, họ cịn phải thamgia việc làm xã hội để mang lại thu nhập cho mái ấm gia đình và góp phần cho xã hội. + “ Dung ” : Cái đẹp và vẻ đẹp của người phụ nữ lúc bấy giờ, nó trở thành yếu tố được xãhội chăm sóc. Làm đẹp luôn là nhu yếu tất yếu của con người, mỗi thời đại có nhữngquan niệm và những nhìn nhận khác nhau về nó. Nhưng có nhiều phụ nữ quá chú trọngđến việc chăm chút bản thân, quá chú trọng về mặt hình thức, thẩm mĩ viện, trang phụcnày, phục trang kia mà khơng biết rằng cái đẹp hình thức phải đi đôi và tích hợp với cáiđẹp nội dung + “ Ngôn ” : Với nhịp độ tăng trưởng của xã hội, việc làm của người phụ nữ u cầu địihỏi họ khơng thể nào cũng khuôn phép thưa, dạ, bẩm, vâng. Ngôn từ đang dần được trítuệ hóa, khoa học hóa, nó càng ngắn gọn, súc tích, tiềm ẩn hàm lượng thơng tin lớn. + “ Hạnh ” : Ngày nay, đức hạnh của người phụ nữ được biểu lộ rõ nhất trong vai tròlàm vợ, làm mẹ, làm con. Ở vai trò làm vợ, người phụ nữ cùng chồng thực thi tất cảcác tính năng của mái ấm gia đình : tính năng sinh sản, làm kinh tế tài chính, tiếp xúc … Người vợ luônlà chỗ dựa ý thức cho người chồng, san sẻ buồn vui, thành công xuất sắc cũng như thất bạicủa chồng để giữ gìn niềm hạnh phúc mái ấm gia đình, người vợ phải làm trịn nghĩa vụ và trách nhiệm của mìnhtrong việc cung ứng nhu yếu tâm sinh lí, nhu yếu niềm tin cũng như vật chất của chồng. 3. Số phận-Người phụ nữ xưa bị phân biệt bất bình đẳng và bị trói buộc trong vịng lễ giáo phongkiến “ tại gia tịng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tằng tử ” nên số phận éo le đau khổ. – Ngày xưa, ý niệm trọng nam khinh nữ tuy chưa biến hóa trọn vẹn nhưng ngườiphụ nữ cũng đã được hưởng những quyền hạn như phái mạnh và được xã hội tôn trọng. Phụ nữa được học tập, thao tác, góp sức trong mọi nghành, kể cả nghành chính trịhay điều tra và nghiên cứu khoa học tưởng chừng chỉ dành riêng cho phái mạnh, ở nhiều nước trênthế giới, phụ nữ đã vươn lên những vị thế tối cao như Tổng thống, Thủ tướng, Bộtrưởng, … Còn ở nước ta cũng đã có Phó quản trị nước và nhiều phụ nữ là giáo sư, bácsĩ, người kinh doanh, … xuất sắc, mang lại vinh quang cho quốc gia. 4. Vẻ đẹp người phụ nữ trong chiến đấu – Từ xưa, phụ nữ ta đã có truyền thống cuội nguồn chống giặc ngoại xâm : Giặc đến nhà đàn bàcũng đánh. Trong cuộc dựng nước và giữ nước đã có nhiều phụ nữ nổi tiếng như : BàTrưng Bà Triệu, Ỷ Lan … đã làm cho quân giặc nhiều phen bạt vía kinh hồn – Trong kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ đã Open nhiều khuôn mặt chiến đấuhi sinh quả cảm của những chị : Võ Thị Sáu, Nguyễn Thị Minh Khai, Mạc Thị Bưởi, Nguyễn Thị Nhỏ, Nguyễn Thị Chiên, Trần Thị Lý, Nguyễn Thị Tuyển, Nguyễn ThịHằng, Võ Thị Thắng, chị Út Tịch, mẹ Tơm, mẹ Suốt, bà Nguyễn Thị Định, Nguyễn ThịBình, Trương Mỹ Hoa v.v. Quyết tâm đánh giặc đến cùng của những mẹ, những chị là Còncái lai quần cũng đánh ( Người mẹ cầm súng – Nguyễn Thi ) … Những người mẹ, ngườivợ ở hậu phương luôn làm yên lòng những người đi chiến đấu … KB : Nêu cảm nhận chung